“Nghe nói đến sanjae rồi, nhưng chính xác nó bảo đảm cho mình cái gì thì không rõ.” Rất nhiều người chỉ bắt đầu tìm hiểu chế độ này sau khi tai nạn đã xảy ra ở nơi làm việc hoặc cơ thể có dấu hiệu bất thường. Tên gọi thì dài và cứng, lời giải thích thì mỗi nơi một kiểu, nên ngay từ nút áo đầu tiên đã thấy mông lung.
Bài viết này tổng hợp bức tranh chung về bảo hiểm tai nạn lao động (산재보험) của Hàn Quốc: đây là chế độ gì, áp dụng cho ai, được bồi thường những gì, theo tầm nhìn của người lần đầu tiếp cận. Thuật ngữ pháp luật khó sẽ được diễn giải hết mức có thể, kèm theo điều luật làm căn cứ, bạn cứ thong thả theo từng đoạn.
Contents Mục lục 08 SECTIONS
Bảo hiểm tai nạn lao động Hàn Quốc là gì?
Tên đầy đủ tiếng Hàn của chế độ là 산업재해보상보험, gọi tắt là 산재보험 (sanjae). Đây là chế độ bảo hiểm xã hội chi trả các trợ cấp luật định về điều trị, bù đắp thu nhập và phục hồi khi người lao động bị thương hay mắc bệnh liên quan đến công việc. Điều 1 Luật Bảo hiểm bồi thường tai nạn lao động Hàn Quốc quy định mục đích của chế độ là bồi thường nhanh chóng và công bằng cho tai nạn do công việc của người lao động, đồng thời thúc đẩy việc phục hồi và trở lại xã hội của người bị nạn.
Tách cái tên tiếng Hàn ra sẽ thấy tính chất rõ hơn: 산업재해 là thiệt hại gặp phải khi làm việc, 보상 là bồi thường, 보험 là bảo hiểm. Rủi ro không chỉ giao cho từng chủ sử dụng lao động riêng lẻ, mà được những bên tham gia bảo hiểm cùng chia sẻ; việc quyết định và chi trả trợ cấp do Cơ quan Phúc lợi Lao động Hàn Quốc (근로복지공단, COMWEL) thực hiện. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa bảo hiểm sanjae thay thế toàn bộ trách nhiệm dân sự của chủ hoặc bồi hoàn đủ mọi thiệt hại.
- Cơ quan vận hành
- Cơ quan Phúc lợi Lao động Hàn Quốc (thuộc Bộ Việc làm và Lao động)
- Người đóng phí bảo hiểm
- Người lao động thông thường: chủ chịu toàn bộ (người cung cấp lao động có quy định chia phí riêng)
- Đối tượng bồi thường
- Người lao động bị tai nạn do công việc và thân nhân
- Luật căn cứ
- Luật Bảo hiểm bồi thường tai nạn lao động Hàn Quốc
Vì sao có chế độ này?
Vốn dĩ, người lao động bị thương khi làm việc thì trách nhiệm bồi thường thuộc về chủ sử dụng lao động. Luật Tiêu chuẩn lao động Hàn Quốc (근로기준법), từ Điều 78 đến Điều 92, quy định các khoản chủ phải bồi thường: chi phí điều trị, tiền lương ngày nghỉ, bồi thường thương tật. Vấn đề là khi chủ không còn khả năng chi trả, hoặc nơi làm việc đóng cửa, thì chính người bị thương lại không còn đường nào để nhận bồi thường.
Vì vậy, phí bảo hiểm được thu trước từ chủ sử dụng lao động và những bên tham gia bảo hiểm khác, rồi dùng nguồn quỹ chung đó để trả trợ cấp luật định khi tai nạn xảy ra. Đó chính là bảo hiểm tai nạn lao động. Ở Hàn Quốc, luật này được ban hành năm 1963 và thi hành từ năm 1964, là chế độ ra đời sớm nhất trong các loại bảo hiểm xã hội của nước này.
Ba đặc điểm riêng của bảo hiểm tai nạn lao động
Xin tóm tắt ba điểm làm chế độ này khác các loại bảo hiểm khác.
① Không xét lỗi của bạn
Nhiều người lo lắng “có phải tại mình bất cẩn không”, nhưng chỉ vì người lao động sơ suất hoặc có lỗi thông thường mà trợ cấp sanjae không bị cắt theo tỷ lệ lỗi. Khi mối liên hệ nhân quả tương xứng giữa công việc và tai nạn được công nhận, về nguyên tắc trợ cấp luật định được chi trả mà không cần phân chia trước bên nào có lỗi nhiều hơn. Tuy nhiên, tai nạn do hành vi cố ý, tự gây thương tích hoặc phạm tội của người lao động là ngoại lệ luật định, nên không thể hiểu là “hành động nào cũng chắc chắn được bồi thường”.
② Bồi thường theo mức định sẵn, tương đối nhanh
Đòi bồi thường thiệt hại dân sự có thể đòi toàn bộ thiệt hại, nhưng đổi lại mất rất nhiều thời gian. Bảo hiểm tai nạn lao động chi trả theo tỷ lệ và mức tiền định sẵn dựa trên tiền lương bình quân, nên tương đối nhanh chóng.
- Không xét lỗi của người lao động
- Chi trả tương đối nhanh theo mức định sẵn
- Bao quát từ điều trị, sinh kế đến phục hồi
- Phải chứng minh riêng các điều kiện pháp lý làm phát sinh trách nhiệm bồi thường
- Đòi được toàn bộ thiệt hại nhưng kéo dài
- Bù phần sanjae không lo được, như tiền tổn thất tinh thần
Hai chế độ không phải lúc nào cũng buộc chọn một bỏ một, nhưng cũng không cho nhận hai lần cùng một hạng mục thiệt hại. Nếu đã nhận bồi thường từ chủ sử dụng lao động hoặc bên thứ ba, trợ cấp bảo hiểm cùng tính chất có thể bị điều chỉnh theo Điều 80 và Điều 87 của luật. Vì vậy, trước khi thỏa thuận cần tách rõ tên gọi và phạm vi của từng khoản tiền.
③ Lo cả cuộc sống sau khi hồi phục
Bảo hiểm tai nạn lao động không dừng ở viện phí và thu nhập trong thời gian nghỉ. Người còn di chứng được bồi thường thương tật, người cần chăm sóc được hỗ trợ chăm sóc, người muốn trở lại làm việc được hỗ trợ phục hồi nghề nghiệp. Không chỉ “khoảnh khắc bị thương” mà cả “cuộc sống sau đó” cũng được chăm lo, đây là điểm khác hẳn bảo hiểm tư nhân.
Ai được áp dụng?
Đây là phần bị hiểu lầm nhiều nhất. Không ít người tự bỏ cuộc từ trước với suy nghĩ “mình không phải nhân viên chính thức”, “mình chỉ làm thời gian ngắn”. Nhưng Điều 6 của luật về nguyên tắc áp dụng cho mọi cơ sở kinh doanh hoặc nơi làm việc có sử dụng người lao động. Vì vậy, nếu bạn thực tế là người lao động theo Luật Tiêu chuẩn lao động tại nơi thuộc diện áp dụng, cách làm việc thực tế quan trọng hơn tên hợp đồng hay thời gian làm việc.
- Nhân viên chính thức, hợp đồng, làm công nhật, làm thêm: nếu là người lao động tại nơi thuộc diện áp dụng thì không bị loại chỉ vì hình thức hợp đồng
- Người làm việc ngắn giờ: không bị loại chỉ vì thời gian làm việc ngắn
- Người lao động nước ngoài: về nguyên tắc không bị phân biệt trong điều trị và trợ cấp sanjae chỉ vì quốc tịch hoặc tình trạng cư trú hợp pháp hay không hợp pháp
Với người nước ngoài, điều cần xét trước là quan hệ làm việc thực tế tại nơi thuộc diện áp dụng có phải quan hệ của người lao động hay không, chứ không chỉ nhìn thị thực hoặc tư cách cư trú. Vấn đề quản lý cư trú và quyền yêu cầu trợ cấp sanjae cần được phân biệt.
Tuy nhiên, nơi áp dụng chế độ bồi thường tai nạn riêng cho công chức, quân nhân, thuyền viên, thuyền viên tàu cá, cán bộ và nhân viên trường tư; hoạt động thuê người trong hộ gia đình; cùng một số cơ sở nông nghiệp, lâm nghiệp (trừ khai thác gỗ), ngư nghiệp và săn bắt không có tư cách pháp nhân, thường xuyên sử dụng dưới 5 người, có thể bị loại khỏi phạm vi Luật Bảo hiểm bồi thường tai nạn lao động (phần ngoại lệ Điều 6 của luật, Điều 2 nghị định). Nơi bị loại vẫn có thể tự nguyện tham gia nếu được Cơ quan chấp thuận, nên phải kiểm tra đồng thời ngành nghề và tình trạng tham gia.
Tài xế giao hàng, shipper giao đồ ăn và những người cung cấp lao động qua nền tảng được bảo vệ theo quy định đặc biệt, khác với người lao động theo Luật Tiêu chuẩn lao động. Về nguyên tắc, chủ cơ sở và người cung cấp lao động chia đôi phí bảo hiểm; với nghề do nghị định quy định, chủ cơ sở chịu toàn bộ. Phần này được nói kỹ trong bài về sanjae của shipper và người cung cấp lao động.
Tai nạn do công việc là gì?
Bồi thường của bảo hiểm tai nạn lao động bắt đầu từ việc được công nhận là tai nạn do công việc (업무상 재해). Điều 37 của luật chia tai nạn do công việc thành ba nhánh lớn.
- Tai nạn do công việc
- Bị thương khi đang làm việc, tai nạn khi đi công tác hay di chuyển vì công việc, tai nạn trong hoạt động do công ty quản lý như liên hoan công ty
- Bệnh do công việc
- Bệnh mà nguyên nhân là công việc: tiếp xúc chất độc hại, động tác lặp đi lặp lại, làm việc quá sức (bệnh cơ xương khớp, bệnh mạch máu não và tim, ung thư nghề nghiệp)
- Tai nạn trên đường đi làm
- Tai nạn xảy ra khi đi làm và về nhà theo tuyến đường, cách thức thông thường
Cốt lõi ở đây là mối liên hệ nhân quả giữa công việc và tai nạn, nói dễ hiểu là có sợi dây kết nối đủ để xem công việc là nguyên nhân hay không. Không chỉ tai nạn xảy ra trong một khoảnh khắc, mà bệnh tích tụ dần dần, và cả tai nạn trên đường đi làm về cũng có thể được tính. Riêng tai nạn trên đường đi làm về mới được đưa vào đối tượng bồi thường chính thức khá gần đây, từ ngày 1 tháng 1 năm 2018.
Ngược lại, Khoản 2 Điều 37 quy định thương tích, bệnh tật, thương tật hoặc tử vong do hành vi cố ý, tự gây thương tích hay hành vi phạm tội của người lao động gây ra thì về nguyên tắc không được xem là tai nạn do công việc.
Được bồi thường những gì?
Được công nhận sanjae thì không phải chỉ nhận một khoản, mà tùy tình trạng có thể nhận nhiều loại trợ cấp cùng lúc. Khoản 1 Điều 36 của luật định ra tám loại trợ cấp bảo hiểm.
- Trợ cấp điều trị
- Hỗ trợ chi phí điều trị: khám, thuốc, phẫu thuật, nằm viện, phục hồi chức năng
- Trợ cấp nghỉ việc
- Trả 70% tiền lương bình quân cho thời gian không làm việc được vì điều trị
- Trợ cấp thương tật
- Khi điều trị xong vẫn còn thương tật (cấp độ thương tật 1~14, số càng nhỏ càng nặng)
- Trợ cấp chăm sóc
- Khi điều trị kết thúc mà vẫn cần người khác chăm sóc
- Trợ cấp cho thân nhân
- Chi trả cho thân nhân khi người lao động tử vong vì tai nạn do công việc
- Trợ cấp thương bệnh hằng tháng
- Thay trợ cấp nghỉ việc khi sau 2 năm điều trị vẫn chưa khỏi, thuộc trạng thái điều trị nặng cấp 1~3 và không đi làm
- Chi phí mai táng
- Hỗ trợ chi phí mai táng khi tử vong vì công việc
- Trợ cấp phục hồi nghề nghiệp
- Hỗ trợ đào tạo nghề và các hỗ trợ khác để trở lại làm việc
Ngoài tám loại này, với bệnh bụi phổi (진폐), bệnh phổi do hít bụi, có riêng trợ cấp bồi thường bệnh bụi phổi và trợ cấp thân nhân bệnh bụi phổi (Điều 91-3, Điều 91-4 của luật). Mức tiền và cách tính cụ thể mỗi loại mỗi khác, tôi sẽ nói kỹ từng khoản trong các bài riêng.
Câu hỏi thường gặp
Bị thương ngay ngày đầu vào làm cũng được bồi thường chứ?
Chủ chưa tham gia bảo hiểm tai nạn lao động thì sao?
Người lao động có phải đóng phí bảo hiểm tai nạn lao động không?
Tôi ngại làm sanjae vì sợ công ty bị ảnh hưởng.
Lời cuối muốn gửi đến bạn
Bảo hiểm tai nạn lao động là chế độ khởi đầu từ lời hứa của xã hội: không để ai một mình gánh chịu thiệt hại gặp phải khi làm việc. Ban đầu thuật ngữ và thủ tục ập đến cùng lúc sẽ thấy choáng ngợp, nhưng nắm được bức tranh chung như bài này rồi thì các bước tiếp theo sẽ nhẹ hơn nhiều.
Tuy vậy, cũng có những chỗ phán đoán trở nên khó khăn tùy hoàn cảnh từng người, như phải chứng minh mối liên hệ giữa bệnh và công việc, hay tính chuyện ứng phó sau khi không được công nhận. Những lúc đó, thay vì một mình gắng gượng, bạn có thể cân nhắc nhờ chuyên gia như chuyên gia tư vấn lao động có chứng chỉ của Hàn Quốc (tiếng Hàn: 노무사, nomusa) giúp ở mức cần thiết. Mong bài viết này đỡ được bạn ở trang đầu tiên.
Bình luận 0
Mọi bình luận sẽ hiển thị sau khi được quản trị viên duyệt.